Thứ Ba, 22 tháng 10, 2013

Đặc biệt Cty thua kiện người lao động do đơn phương kết thúc hđlđ.

Chị Đức nhận được Quyết định số 06/QĐ-CT (QĐ 06) của Cty QCATV về việc kết thúc HĐLĐ đối với chị kể từ ngày 1-1-2013

Cty thua kiện người lao động do đơn phương chấm dứt hđlđ

276. 000 đồng bị trừ do xếp loại C. 25 và 28-12-2012). 000 đồng là chưa ăn nhập. Ảnh: Kiều Oanh. Chị làm việc tại Cty QCATV từ ngày 1-3-2008. 658. Đại diện theo pháp luật của Cty QCATV viện dẫn: Cty và chị Đức ký HĐ 39 và khi gần hết hạn giao kèo. Nhưng sau khi hết kì hạn Cty không ký kết HĐLĐ mới và vẫn để chị Đức tiếp tục làm việc ở Cty.

Theo đơn khởi kiện cũng như lời khai tại tòa của nguyên đơn. Cty QCATV có quyền chấm dứt HĐLĐ đối với chị Đức nhưng việc chấm dứt HĐLĐ phải được tiến hành theo một trình tự. Chị và Cty QCATV ký HĐLĐ chung cục mang số 39/2009/HĐLĐ (HĐ 39). Thời hạn chung cuộc của HĐLĐ là ngày 30-11-2012. Ngày 1-12-2009. Trong tháng 5-2013. Trong đó chị Đức được hưởng khoản tiền tết Âm lịch Quý Tỵ- 2013 tương đương lương bổng tháng 12-2012.

Về phía bị đơn. Về các đề nghị của chị Đức. Buộc Cty QCATV phải nhận chị Đức làm việc thì phải thanh toán lương bổng theo mức lương 3. Từ những căn cứ trên.

Ngày 9-1-2013. Cty kết thúc HĐLĐ với chị Đức mà không cần báo trước nên không bằng lòng đề nghị hủy QĐ 06; không ưng ý đề nghị nhận chị Đức trở lại cũng như không ưng ý bồi hoàn các khoản theo yêu cầu của nguyên đơn. 151 đồng. Người sử dụng cần lao muốn đơn phương chấm dứt HĐLĐ phải cho người lao động biết trước ít ra 45 ngày đối với HĐLĐ không xác định hạn.

Chị Đức vào làm việc tại Cty QCATV từ ngày 1-3-2008. 929 đồng và thanh toán lại 650. Thủ tục khăng khăng theo luật định. Cụ thể: các thông báo số 224. 227) mà Cty viện dẫn chỉ mang nội dung đề nghị chị Đức viết lại bản kiểm điểm và chấp hành quy định của Cty. 364 đồng; bồi thường 2 tháng lương là 6. Do đó. Nếu quá trình chị Đức vi phạm kỷ luật cần lao hoặc nội quy. 36 tháng. Do HĐLĐ giữa đôi bên đã hết hạn và đã nhiều lần thông báo gia hạn hiệp đồng và viết bản kiểm điểm theo quy định nhưng chị Đức không thực hiện.

227/TB-CT (vào các ngày 19. Có ký kết hợp đồng lao động (HĐLĐ) lần lượt từ 3 tháng.

Cty đã 3 lần thông tin chị Đức về việc gia hạn HĐLĐ. Quy chế Cty. 6 tháng. Tuy nhiên thông báo này cùng thời gian chấm dứt HĐLĐ với chị Đức nên Cty QCATV đã vi phạm thời hạn báo trước theo luật định được quy định tại Điều 38 của Bộ luật lao động. Cty vẫn giao việc và để chị đi làm thông thường nên bình thản HĐLĐ giữa chị và Cty QCATV trở thành HĐLĐ không xác định thời hạn. Để làm lại bản kiểm điểm theo quy định chung của Cty trước khi ký gia hạn hợp đồng.

HĐXX tuyên xử: Thứ nhất. Tổng cộng. Theo khoản 2 Điều 27 của Bộ luật lao động và khoản 4 Điều 4 của Nghị định số 44/2003/NĐ-CP của Chính phủ thì HĐ 39 hẳn nhiên trở thành HĐLĐ không xác định thời hạn.

HĐLĐ giữa chị và Cty QCATV hết hạn vào ngày 30-11-2012 nhưng tháng 12-2012 và thậm chí kéo dài qua tháng 1-2013. Nguyên đơn còn đề nghị Cty QCATV bồi hoàn lương lậu trong thời gian chị không được làm việc và bồi hoàn do việc bị chấm dứt HĐLĐ trái luật pháp; đề nghị Cty tính lại lương bổng tháng 6-2012 do bị trừ lương không đúng theo quy định chi trả lương của Cty; yêu cầu Cty chi trả tiền thưởng tết Âm lịch Quý Tỵ- 2013 tương đương lương hướng tháng 12-2012.

Cty QCATV đơn phương chấm dứt HĐLĐ với chị Đức là trái luật pháp.

Hủy QĐ số 06 của Cty QCATV đối với chị Nguyễn Thị Mỹ Đức. Bên cạnh đó. Hội sở Cty TNHH MTV Truyền hình cáp Quy Nhơn. 423 phiếu (hoàn thành 98. Chị Đức thu được 2. 12 tháng. Công việc: thu tiền thuê bao. Hai bên đã ký kết HĐLĐ 3 tháng.

Phía bên bị phải đền bù cho nguyên đơn 37. Thứ hai. HĐXX nhận định. Mức lương hệ số 1.

226. 693 đồng là thích hợp. Nên chị Đức được nhận mức lương 3. Việc bên nguyên yêu cầu hủy QĐ 06 và yêu cầu Cty QCATV phải nhận chị Đức trở lại làm việc và Cty phải bồi hoàn một khoản tiền ứng với số lương bổng và phụ cấp lương trong những ngày không được làm việc.

6 tháng. Bài. Kì hạn 3 năm: từ ngày ký đến ngày 30-11-2012. Tuy nhiên.

929 đồng/tháng. 67%). Như vậy HĐLĐ chị Đức ký kết với Cty QCATV là HĐLĐ có kì hạn. 093. Đại diện Cty QCATV cho rằng. Nên ngày 9-1-2013. Bên cạnh đó. 187. Cộng với chí ít 2 tháng lương bổng là hợp với quy định tại khoản 1 Điều 41 của Bộ luật lao động. 65 bậc I bảng B9-4 cấp III. Theo chị Đức.

Cty QCATV đã ra QĐ 06 chấm dứt HĐLĐ đối với chị Đức (?). Thứ ba. 093. Việc Cty QCATV cho rằng đã thông tin trước (trình bày ở 3 thông tin số 224. Với những bằng cớ trong hồ sơ vụ án và cứ vào kết quả tranh biện tại phiên tòa. Chiếu theo quy chế trả lương của Cty thì tỷ lệ hoàn thành 98% được hưởng 95% đơn giá.

Chi trả tiền thưởng cuối năm là 3. 726. Trả lương theo hiệu quả sản xuất kinh doanh của đơn vị. Vì thế. 858 đồng. Do đó. HĐXX cho rằng.

226. Buộc Cty QCATV phải có bổn phận tính sổ cho chị Đức các khoản: lương hướng trong thời gian chị Đức bị nghỉ việc từ ngày 2-1-2013 đến ngày 27-9-2013 là 27. Việc Cty QCATV chấm dứt HĐLĐ đối với chị là trái quy định của luật pháp nên chị khởi kiện để đề nghị Cty QCATV hủy QĐ 06 và nhận chị trở lại làm việc với công việc và mức lương cũ.

Trong đó. Cty QCATV dẫn chứng thông báo số 05/TB-CT (ngày 9-1-2013) thông tin chấm dứt HĐLĐ đối với chị Đức kể từ ngày 1-1-2013. Nhưng chị Đức không chấp hành. Các khoản mà chị Đức đề nghị Cty QCATV bồi thường nói trên là hoàn toàn hợp lý. 1 năm và 3 năm. Nhưng Cty xếp loại C và trừ 650.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét